Category Archives: Sách và phim
ALICE IN WONDERLAND ( 3D ) …bộ phim bom tấn năm 2010
Nhiều năm sau khi lạc vào xứ thần tiên, Alice giờ đã 19 tuổi, và gia đình Alice đang rất mong cô lập gia đình dù cô chưa muốn. Trong khi Alice kẹt cứng trong một vụ cầu hôn được sắp đặt trước, Alice chợt nhìn thấy chú thỏ trắng đeo đồng hồ, và khi theo đuổi chú, một lần nữa cô quay trở lại Wonderland. Sau nhiều năm bị quên lãng, Wonderland giờ đang đứng trước nguy cơ bị nữ hoàng Đỏ thống trị. Và Alice giờ đây là niềm hy vọng để chấm dứt nỗi kinh hoàng do nữ hoàng gây ra.
Lại là một bộ phim thể loại Kỳ ảo, thể loại đã trở thành thương hiệu của Tim Burton, Alice in Wonderland phiên bản 2010 được dựng với công nghệ 3-D, càng tăng thêm độ huyền ảo của khung cảnh nơi đây. Các nhân vật trong câu chuyện thiếu nhi kinh điển một lần nữa được sống dậy, với những hình hài hoàn toàn mới qua trí tưởng tượng độc đáo của Tim Burton. Tính cách các nhân vật cũng càng thêm cả tính và sâu sắc khi được thể hiện bởi dàn diễn viên nổi tiếng với thể loại kỳ ảo: Johnny Depp trong vài Mad Hatter, Helena Bonham Carter trong vài Red Queen – nữ hoàng Đỏ, và Anne Hathaway là White Queen – nữ hoàng Trắng.
Với kỹ xảo hoành tráng, hình ảnh đẹp mắt và một câu chuyện kỳ diệu, hoang đường mà làm mê đắm của phong cách Tim Burton, Alice in Wonderland có lẽ sẽ nắm chắc vị trí phim bom tấn của năm 2010 .Alice in Wonderland sẽ được phát hành dưới cả hai định dạng là 2D và 3D từ ngày 05.03 ở Mỹ và 12.03.2010 tại Việt Nam.
James Cameron dựng phim từ sách ‘người lớn’
Đồng đạo diễn với James Cameron còn có Zack Snyder (từng thực hiện 300, Watchmen) và Gore Verbinski (đạo diễn của series phim Cướp biển vùng Caribbean). Mỗi người sẽ thực hiện một phân đoạn phim từ series truyện tranh viễn tưởng rất sexy Heavy Metal.
Ngoài ra, Mark Osborne (đạo diễn của Kung Fu Panda) và danh hài Jack Black cũng tham gia ê-kíp làm phim với phân đoạn riêng của mình. Còn một số tên tuổi nổi tiếng khác góp mặt trong dự án đình đám này và sẽ được công bố trong thời gian sắp tới.
Một số hình ảnh từ truyện tranh Heavy Metal:
“Triệu phú ổ chuột”: Từ sách lên phim
Vào chiều thứ 7 (17/10), trung tâm Hỗ trợ và Phát triển Tài năng điện ảnh trẻ TPD sẽ chiếu bộ phim từng đoạt 8 giải Oscar 2009 “Triệu phú ổ chuột”. Chương trình còn có phần giao lưu về chủ đề chuyển thể cuốn sách thành tác phẩm điện ảnh.
Đây là hoạt động mở màn của chương trình chuyên đề điện ảnh định kỳ hàng tháng mang tên “Từ sách lên màn ảnh”. Chương trình phi lợi nhuận của Trung tâm TPD, Hội điện ảnh và khán giả được vào cửa tự do, tại phòng chiếu ở địa chỉ 22A Hai Bà Trưng.
Trong chương trình này, khán giả yêu điện ảnh sẽ được xem bộ phim “Slumdog Millionaire” (Triệu phú ổ chuột) của đạo diễn Danny Boyle. Đây là tác phẩm điện ảnh được chuyển thể từ cuốn sách “Q&A” của tác giả Vikas Swarup, một nhà ngoại giao Ấn Độ.
Sau buổi chiếu, khán giả sẽ giao lưu cùng 2 khách mời nhà biên kịch Đoàn Minh Tuấn, giảng viên ĐH Sân khấu Điện ảnh Hà Nội và dịch giả Cao Việt Dũng -Trưởng phòng biên tập công ty truyền thông Nhã Nam.
Phim “Triệu phú ổ chuột” kể lại câu chuyện của một chàng trai trẻ xuất thân từ khu ổ chuột ở Mumbai khi cậu tham gia trong trò chơi truyền hình “Ai là triệu phú?” và trả lời được chính xác tất cả những câu hỏi, vượt quá kỳ vọng của mọi người và khiến người dẫn chương trình lẫn các sĩ quan cảnh sát phải nghi ngờ… Bộ phim dành được 95 giải thưởng quốc tế, trong đó có 8 giải Oscar ở hầu hết các hạng mục quan trọng.
Tiểu thuyết “Q&A” cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành tại Việt Nam, với bản dịch của dịch giả Nguyễn Bích Lan.
Watchmen: Từ sách lên phim
Chỉ hai tuần sau khi ra mắt tại Bắc Mỹ, Watchmen – tác phẩm điện ảnh về những nhân vật siêu anh hùng – sẽ đến với khán giả VN từ ngày 20-3 tới dưới tựa đề: Người hùng báo thù
Với hơn 55 triệu USD thu được trong tuần đầu tiên công chiếu, Watchmen trở thành bộ phim có doanh thu mở màn cao nhất từ đầu năm đến nay. Vài tháng trước đó, khi đoạn trailer của Watchmen xuất hiện cùng lúc với dịp ra mắt phim The dark knight, cả thế giới điện ảnh đã dấy lên một cơn sốt chờ đợi. Điều gì đã khiến Watchmen trở thành bộ phim được chờ đợi nhất từ đầu năm đến nay?
Câu chuyện về các siêu anh hùng
Watchmen được chuyển thể từ bộ truyện tranh cùng tên của họa sĩ Gibbons và nhà văn Alan Moore, xuất bản năm 1986-1987. Câu chuyện diễn ra trong bối cảnh thế giới khi Richard Nixon còn làm tổng thống và nước Mỹ đang bên bờ vực chiến tranh với Liên Xô cũ. Các anh hùng hoạt động tự do và phần lớn đã giải nghệ trừ Manhattan đang làm việc trong quân đội. Khi một trong số những siêu anh hùng bị ám sát, Rorschach, một nhân viên điều tra, đã tiến hành tìm hiểu về cái chết. Anh cảnh báo hai đồng đội cũ Nite Owl và Silk Spectre đang có một âm mưu bí mật. Hàng loạt siêu anh hùng đang bị thủ tiêu để che giấu bí mật đó…
Watchmen là bộ truyện tranh 12 kỳ, được tái bản nhiều lần và trở thành một thiên trường ca huyền thoại. Do tính chất kỳ bí của cuốn sách với các chi tiết phức tạp, kèm theo nhiều tầng lớp ý nghĩa của truyện, lời thoại, tính tượng trưng, hồi tưởng xen lẫn viễn tưởng, Watchmen từ lâu được xem là một thể loại và gần như là không thể dựng thành phim. Trong quá khứ, từng có rất nhiều kế hoạch chuyển thể bộ truyện tranh Watchmen lên màn bạc, với hàng loạt các tên tuổi lớn như các diễn viên Kevin Costner, Jamie Lee Curtis, John Cusack, Sigourney Weaver, Hillary Swank, Joaquin Phoenix. Về phía đạo diễn, nhà sản xuất cân nhắc giữa Terry Gilliam, Paul Greengrass và Darren Aronofsky nhưng rốt cuộc Zack Snyder được chọn.
Dấu ấn kỹ xảo
Watchmen chứa đầy những yếu tố viễn tưởng không có ở trái đất và một phần tư câu chuyện diễn ra trên Sao Hỏa. Do đó, phần kỹ xảo cũng phải đảm nhận khá nhiều mục: tòa lâu đài kính, các cỗ máy bay lượn trên bầu trời và các chi tiết viễn tưởng khác. Đặc biệt là những cảnh liên quan đến lâu đài bằng kính của tiến sĩ Manhattan được thiết kế phối hợp giữa vật lý lượng tử và đồng hồ. Điều đáng chú ý là hình tượng đồng hồ xuất hiện khá nhiều, nhắc nhở con người rằng ngày tận thế sắp đến. Đạo diễn Snyder nói: “Có khá nhiều cảnh lớn trong bộ phim này: Sự pha trộn hiện thực khắc nghiệt khi tiến sĩ Manhattan ở trên Sao Hỏa, trên tòa lâu đài bằng kính đang bay, hay một tiến sĩ Manhattan cao hơn 60 m đang sải bước giữa những khu rừng ở VN. Chúng tôi cố gắng để có thể mang lại cho khán giả cảm giác về một cuốn truyện tranh thực sự”. Đạo diễn Synder không muốn dựng tất cả các cảnh trên máy tính, nên họ xây dựng một thành phố New York và thực hiện khoảng 200 cảnh tại đây. Quá trình làm phim diễn ra ở một vài địa điểm xung quanh Vancouver – Canada.
Từ sách – từ phim The white ribbon – bạo lực sinh ra bạo lực
“Màu trắng là màu của sự trong sáng ngây thơ”. The white ribbon (Dải băng trắng) đặt bối cảnh ở một miền quê hiền hòa yên tĩnh của nước Ðức trước Chiến tranh thế giới thứ I.
Sự yên tĩnh ấy bị phá vỡ bởi hàng loạt sự kiện kỳ lạ bí ẩn mà người kể lại câu chuyện này, một thầy giáo làng trẻ tuổi, sau nhiều năm vẫn không dám lý giải điều gì.
Tất cả bắt đầu với một tai nạn. Ông bác sĩ làng bị ngã ngựa khi trên đường về nhà. Ai đó đã giăng dây. Một bà nông dân ngã chết trong nhà kho. Một đứa trẻ bị treo lên và bị tra tấn. Nhà kho bị cháy. Một đứa trẻ khác bị đánh đập dã man…
Những người có chức sắc trong làng cố gắng điều tra. Kẻ gây án hẳn phải là một trong số những người trong làng. Nhưng kẻ đó là ai và vì sao lại gây nên tội ác man rợ ấy?
Liệu đó là ông bá tước, chủ đất, người đàn ông bị vợ ruồng bỏ vì bà không muốn con mình lớn lên trên vùng đất của bạo lực, nơi cái ác và thù hằn rình rập xung quanh? Hay đó là những nông dân làm lụng miệt mài nhưng không được trả công xứng đáng?
Hay đó là người quản gia chỉ biết dụng tay dụng chân để giải quyết những vướng mắc? Hay đó là ông bác sĩ với cuộc sống riêng tư bệnh hoạn và ích kỷ? Hay đó là ông cha đạo để răn dạy đạo lý làm người tốt phải dùng đến những nhục hình không làm tổn thương thể chất nhưng khiến đứa trẻ vỡ nát tâm hồn?
Hay đó là những đứa trẻ trong ngôi làng bình yên, luôn được dạy phải sống để trở thành người thánh thiện bằng roi vọt và những lời sỉ nhục? Một chân dung xã hội bình thường được tóm lại trong một ngôi làng, tiêu biểu, đặc trưng đến rõ nét.
| Bộ phim The white ribbon (tên gốc: Das weisse band – Dải băng trắng ) của đạo diễn Michael Haneke đã đoạt giải Cành cọ vàng LHP Cannes 2009 và vừa đoạt giải phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc nhất Quả cầu vàng 2010.“Bộ phim này không chỉ nói về sự ra đời của chủ nghĩa phát xít, đó chỉ là cách diễn dịch quá đơn giản chỉ bởi bộ phim đặt bối cảnh ở nước Đức, mà rộng hơn nói về những vấn đề thối nát, về nguồn gốc của bạo lực trên toàn cầu” – đạo diễn Michael Haneke nói về thông điệp của bộ phim Dải băng trắng của mình trong buổi giao lưu với khán giả tại rạp Egyptian Theater, Los Angeles (Mỹ) một ngày trước đêm trao giải Quả cầu vàng 2010. |
Chủ đề bạo lực được hiện diện trong nhiều phim của đạo diễn Michael Haneke. Trong Dải băng trắng, như phần giới thiệu của bộ phim, chủ đề không chỉ dừng ở bạo lực.
Bộ phim nói về nguồn gốc của bạo lực (mặc dù trong bộ phim đen trắng này không có những cảnh đầu rơi máu chảy). Những đứa trẻ trong ngôi làng được giáo dục bằng đòn roi và sự sỉ nhục, bởi những người cầm quyền trong ngôi làng ấy nghĩ rằng chỉ có bạo lực đòn roi và những lời sỉ nhục mới có thể dạy dỗ bọn trẻ nên người.
Mỗi đứa trẻ bị ngược đãi một cách khác nhau. Nhẹ nhàng nhất là sự đổ vỡ hôn nhân của cha mẹ. Con của quản gia thì bị đòn roi. Con của bác sĩ bị cha đẻ lạm dụng tình dục. Con của cha đạo bị sỉ nhục bởi những lời răn dạy của cha. Ông cha đạo bắt những đứa con của mình mang dải băng trắng, màu của sự trong trắng hồn nhiên, để chúng luôn nhớ rằng phải sống đúng đắn, không lạc lối.
Khi đứa con trai lớn của ông thú nhận về chuyện nó bắt đầu biết thủ dâm, ông trói nó vào giường mỗi đêm. Ðôi mắt của đám trẻ con ngước nhìn người lớn trong sự phẫn uất, căm hờn, đau đớn, sợ hãi…
Ðiều đáng sợ đến rợn người nhất của bộ phim, bởi thế, không phải là sự tàn bạo của những người cha mà chính là sự hồn nhiên của những đứa trẻ.”Lý do trong phim của tôi có rất nhiều thú vật và trẻ con, bởi đó là những thành phần nằm dưới đáy trong chuỗi bạo lực. Chúng không thể tự vệ”- Michael Haneke nói.
Xem phim, khán giả đều tự chất vấn: những đứa trẻ trong câu chuyện 20, 30 năm sau khi lớn lên sẽ trở thành ai, trong thời kỳ của phát xít Ðức trỗi dậy mạnh mẽ?
Như hầu hết các phim trước đây của đạo diễn Michael Haneke, câu trả lời không bao giờ được giải đáp một cách rành mạch, rõ ràng. Người xem tự đặt ra cho mình những câu trả lời và tự đi tìm lời lý giải cho chính đáp án của mình. Câu trả lời mà người ta nghĩ đến có thể khiến họ rùng mình và không dám tin vào câu trả lời ấy…
Các phim chuyển thể ăn khách nhất từ sách best-seller
Tạp chí Mỹ Forbes mới đây đã công bố danh sách những bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại (riêng tại thị trường Mỹ) được chuyển thể từ các cuốn sách bán chạy nhất.
![]() |
Danh sách này không bao gồm các phim chuyển thể từ truyện tranh ăn khách, bởi thế sẽ không có các “đại gia” như X-men: The Last Stand, Superman Returns hay Spider-Man.
Bộ truyện Harry Potter
- Tác giả: J.K.Rowling
- Các đạo diễn: C.Columbus, Alfonso Cuaron, Mike Newell (2001-2005)
- Tổng doanh thu tại Mỹ: 1,1 tỉ USD
Hơn 250 triệu cuốn Harry Potter được bán ra trên toàn thế giới, bốn trong số sáu tập sách Harry Potter đã được chuyển thể thành phim (Rowling đang viết tiếp tập thứ bảy, cũng là tập cuối cùng của loạt truyện, còn hai bộ phim chuyển thể từ tập năm và sáu sẽ ra mắt vào các năm 2007-2008).
Dự kiến, “phù thủy” Harry Potter sẽ thu về khoảng 3,5 tỉ USD tại khắp các rạp chiếu bóng toàn cầu.
The Lord of the Rings: J.R.R.Tolkien/ P.Jackson (2001-2003)/ 1,06 tỉ USD
![]() |
Tính đến nay, toàn bộ ba tập này đã bán được hơn 100 triệu cuốn trên toàn thế giới và được dịch ra 25 thứ tiếng.
Nhà làm phim người New Zealand P. Jackson đã giành được bản quyền chuyển thể bộ sách này từ năm 1997 và dàn dựng thành ba tập phim với tập đầu tiên The Fellowship of the Ring ra mắt năm 2001.
Cho đến nay, ba tập phim này đã thu về 2,9 tỉ USD doanh thu vé toàn cầu cùng 17 giải Oscar ở các hạng mục.
Tập thứ ba The Return of the King là bộ phim có doanh thu cao thứ hai trong lịch sử điện ảnh.
Serie Jurassic Park: Micheal Crichton/ Steven Spieberg/ Joe Johnston (1992-2001)/ 767 triệu USD
![]() |
Bộ truyện ly kì nói về những con khủng long độc ác trong công viên chủ đề trên một hòn đảo này đã gây ra một cuộc chiến ác liệt giữa các xưởng phim lớn ở Hollywood.
Cuối cùng, hãng Universal đã giành phần thắng và nhà làm phim S. Spieberg được “chọn mặt gửi vàng” để trao vai trò đạo diễn.
Jurassic Park, trình làng năm 1993, thu về 914 triệu USD toàn cầu và “đẻ” thêm ra hai tập tiếp theo nhưng không mấy thành công.
![]() |
Tập thứ tư, Jurassic Park IV: the Extinction, hiện đang được triển khai, có cả sự tham gia của “công chúa” K.Knightley.
Forest Gump: Winston Groom/Robert Zemeckis (1994)/330 triệu USD
Trước khi viết Forest Gump một mạch trong hơn sáu tuần lễ của năm 1986, Groom đã là một tác giả rất thành công trên văn đàn.
Tám năm sau, bộ phim chuyển thể cùng tên do ngôi sao Tom Hank đóng chính đã ra mắt khán giả và thu về 677 triệu USD và sáu giải Oscar, trong đó một cho Hank và một cho đạo điễn Zemeckis.
![]() |
Bộ phim còn giúp cuốn sách bán được 1,7 triệu bản nữa.
The Chronicle of Narnia: the Lion, the Witch and the Wardrobe: C.S.Lewis/ Andrew Adamson (2005)/ 330 triệu USD
Disney đã chuyển thể tập đầu của tập truyện này (đến nay đã bán được trên 100 triệu cuốn và được dịch ra khoảng 40 thứ tiếng) với kinh phí khổng lồ 180 triệu USD.
Khoản tiền thu về cũng khổng lồ không kém với 745 triệu USD khắp toàn cầu và trở thành bộ phim có doanh thu cao thứ hai của Mỹ trong năm ngoái.
![]() |
Bởi vậy, không ngạc nhiên khi Disney đang có kế hoạch triển khai tập tiếp theo (Prince Caspian), dự kiến ra mắt vào năm 2008.
Jaws: Peter Benchley/ Steven Spielberg (1975)/ 260 triệu USD
Lấy cảm hứng từ những cuộc tấn công có thật của cá mập trên bãi biển Jersey hồi năm 1916, cuốn tiểu thuyết do Benchley sáng tác đã “ngự trị” trong tất cả các danh sách best-seller năm 1974.
Chàng thanh niên trẻ Steven Spielberg đã đạo diễn bộ phim chuyển thể vào năm 1974 với vỏn vẹn bảy triệu USD kinh phí.
![]() |
Nhưng chừng đó cũng đủ để làm nên một bộ phim đi vào lịch sử khi ngay sau đó nó nhanh chóng trở thanh một “quả bom tấn” và tính đến nay đã thu về tổng cộng 470 triệu USD trên toàn cầu.
How The Grinch Stole Christmas: Dr. Seuss/ Ron Howard (2000)/ 260 triệu USD
Là một trong những cuốn sách thiếu nhi nổi tiếng nhất mọi thời đại, tác phẩm này đã được chuyển thể lên màn ảnh rộng vào năm 2000, do Ron Howard làm đạo diễn và Jim Carrey vào vai chính.
![]() |
Mặc dù bị giới phê bình chỉ trích khá gay gắt, bộ phim vẫn kéo được người hâm mộ lũ lượt tới rạp, “hốt” 345 triệu USD trên toàn cầu.
The War Of The Worlds: H.G. Wells/ Steven Spielberg (2005)/ 234 triệu USD
Phiên bản phim chuyển thể từ cuốn sách này (được xuất bản từ cách đây trên 100 năm) do Steven Spielberg thực hiện hồi năm ngoái với Tom Cruise đóng.
Đây chính là lần chuyển thể thứ tư cho đến nay.
![]() |
Dù được khen chê lẫn lộn, bộ phim vẫn có doanh thu ấn tượng với 592 triệu USD ở thị trường toàn cầu.
The Exorcist: William Peter Blatty/ William Friedkin (1973)/ 233 triệu USD
The Exorcist thường về nhất trong các bảng xếp hạng Phim kinh hoàng nhất mọi thời đại.
Bộ phim này còn mang cho tác giả văn học William Peter Blatty một tượng vàng Oscar kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất, khi ông “biến” cuốn best-seller rùng rợn của mình thành kịch bản phim cùng tên.
Phim đến sách – AVATAR
Đạo diễn người Mỹ dự định dựa trên bộ phim bom tấn của ông để viết một cuốn tiểu thuyết đồ sộ, đầy đủ và sâu sắc hơn hẳn những gì đã được đưa lên màn ảnh.
Nếu dự định này được thực hiện, đây sẽ là cuốn sách đầu tay của James Cameron. Tác phẩm đi sâu khai thác đời sống tiền thân của các nhân vật. “Cuốn sách sẽ như một sự dẫn dắt người đọc đến với bộ phim. Nhưng Cameron sẽ viết sâu hơn vào những câu chuyện mà ông chưa có dịp đưa lên màn ảnh. Đây không đơn thuần là việc tiểu thuyết hóa bộ phim. James muốn xây dựng một hùng ca đồ sộ, chứa đầy đủ mọi thứ liên quan đến Avatar”, nhà sản xuất phim Jon Landau chia sẻ với MTV. James Cameron cũng đã xác nhận tin này trên tờ Wall Street Journal.
“Có những thứ bạn chỉ có thể bộc lộ bằng chữ chứ không thể hiện được qua màn ảnh. Tôi tự nhủ với mình: ‘Ta đã kiếm được tiền từ phim, tại sao ta không viết một cuốn sách?”, Cameron nói.
“Hồi ức của một Geisha”: Từ sách đến phim
Năm 1997, nhà văn Mỹ A.Golden làm độc giả sửng sốt với tiểu thuyết “Hồi ức của một Geisha”. Hai năm liền cuốn sách luôn nằm trong danh sách “Sách bán chạy nhất trong năm” của tờ “Thời báo New York”, xuất bản hơn 4 triệu bản tại Mỹ và được dịch sang 32 ngôn ngữ khác nhau.
Năm 2005, đạo diễn Rob Marshall (từng được đề cử Oscar Đạo diễn xuất sắc nhất với phim “Chicago”), nhà sản xuất Lucy Fisher, Douglas Wick và Steven Spielberg, cùng dàn diễn viên ngôi sao của Hollywood đã thể hiện “Hồi ức của một Geisha” bằng phim cùng tên.
Đạo diễn Rob Marshall mong muốn: “Dù là nét văn hoá của một nước Á Đông, nhưng tôi muốn khi xem phim, cả thế giới đều tìm thấy sự đồng cảm. Ai lại chẳng đau lòng khi một cô bé 9 tuổi vừa mồ côi mẹ bị bán làm người ở, và gượng sống với biết bao nỗi đau và tủi nhục. Nhưng cuối cùng, cô bé đã trưởng thành đầy kiêu hãnh và trên hết là luôn biết yêu thương, khao khát sống, dù với một geisha, tình yêu là điều cấm đoán và cuộc sống chỉ là những chuỗi ngày câm lặng!”.
Việc chọn nữ diễn viên vào vai Sayuri là cực kỳ nan giải. Marshall nói: “Chúng tôi muốn thấy được ở nhân vật này sự trưởng thành, từ một bé gái đến người phụ nữ đầy quyến rũ, từ cô hầu gái đến một geisha huyền thoại tài hoa. Cô phải là một diễn viên múa xuất sắc, bởi vũ đạo là điều tối quan trọng của một geisha, và trong phim này, nó đóng vai trò chính yếu trong cuộc đời nhân vật”.
Cuối cùng, Chương Tử Di đã được lựa chọn. Cùng với cô là hai ngôi sao cũng rất ăn khách ở thị trường Châu Á, Dương Tử Quỳnh (trong vai Mameha – người đỡ đầu cho Sayuri) và Củng Lợi (trong vai Hatsumomo – bậc “đàn chị” luôn ác cảm với Sayuri). Với tam đại mỹ nhân Châu Á, các nhà làm phim đã có thể yên tâm về “sức hút” của những “geisha trong phim” này.
Bộ phim bấm máy vào cuối mùa thu, ở phim trường của Hãng Sony Pictures với nội thất truyền thống Nhật Bản 100% do Ken Wanatabe cố vấn.
Những cảnh quay đầu tiên diễn ra tại nhà geisha Nitta, nơi mà hầu hết diễn biến chính của cốt truyện xảy ra. Các nhà làm phim đã tái dựng hầu như toàn bộ quận Geisha nổi tiếng thời bấy giờ của Nhật Bản tại Los Angeles và California.
Sau đó, đoàn phim sang Nhật Bản để quay ngoại cảnh, những di tích lịch sử. Đó là chùa Kiyomizu, một đền thờ thiêng liêng của Phật giáo được xây dựng năm 778 và trùng tu năm 1633; chùa Yoshimine với kiến trúc của năm 1029; đền thờ Shinto Heian Jingu ngay giữa trung tâm Kyoto…
Tự truyện của nhà báo Đức lên phim
Cuốn tự truyện “Sống từng ngày” của Benjamin Prufer về chuyện tình giữa anh với một thiếu nữ Campuchia thất học, từng phải bán thân để nuôi gia đình, đã được dựng thành phim và vừa ra mắt tại Campuchia, trước khi công chiếu ở Đức tháng 1 tới.
Thủ vai nhà báo Đức, tác giả tự truyện, là diễn viên David Kross, người đóng cặp với Kate Winslet trong phim The Reader.Nước Đức năm 2003, một chàng trai trẻ mới bước vào nghề báo bất chợt nhận ra sự nhàm tẻ của cuộc sống thường ngày, của không khí văn phòng ngột ngạt và những tấm thảm trải sàn được hút bụi sạch sẽ. Vậy là Benjamin – tên chàng trai – quyết định khoác ba lô lên vai và thẳng tiến tới Đông Nam Á trong chuyến nghỉ phép dài ba tháng.
Tại Phnom Penh, anh làm quen với Sreykeo trên sàn nhảy như bao anh chàng Tây ba lô với các cô gái bán hoa khác. Nhưng rồi đôi chút khác thường đã níu họ lại với nhau, và đưa cuộc tình ấy đi xa hơn họ tưởng, cho đến một ngày anh nhận được tin Sreykeo bị nhiễm HIV.
Vượt qua những trở ngại về văn hóa, lối sống, tập quán, thậm chí cả sự thiếu thốn triền miên về tiền bạc, Benjamin đã đồng hành cùng Sreykeo, để giành lại nàng từ hố sâu của bệnh tật, mặc cảm, để hiện thực hóa giấc mơ được có gia đình riêng của Sreykeo, và làm nên kết cục có hậu cho câu chuyện tình khó tin, nhưng có thật này.
Benjamin, với bản tính Đức, khiếu hài hước và cả sự can đảm của một phóng viên tự do, hầu như không để lộ một dòng buồn thương bi lụy nào trên trang tự truyện của mình. Thay vào đó là lớp lớp những chi tiết hài hước khi anh đóng giả làm nhân viên của tổ chức phi chính phủ để tìm nguồn thuốc tin cậy cho bạn gái, khi anh lần đầu hồi hộp đưa nàng vào nhà hàng McDonald’s, khi anh hoảng hốt đi tìm để rồi rốt cục thấy nàng ngồi vắt vẻo trên nóc xe buýt vì không chịu được mùi máy lạnh khét lẹt bên trong…
Cuốn tự truyện cũng mở ra trước mắt người đọc thế giới của dân du lịch bụi, thế giới của Tây ba lô, với tất cả mặt tốt xấu, những giới hạn mong manh giữa sự sa ngã và trải nghiệm, giữa tự do đích thực với đời sống trụy lạc, giữa tình yêu với cuộc truy tầm khoái lạc thể xác đơn thuần và dung tục.
Bên cạnh đó, cuốn sách còn là những dòng ghi chép chân thực về thân phận khốn cùng của hàng nghìn cô gái quê ở Campuchia, lên thành thị chỉ với ba lựa chọn: công nhân, bồi bàn hoặc gái mại dâm. Lựa chọn nào cũng đưa họ đến những kết cục bi thảm: bị bóc lột, bị cưỡng bức, bị gia đình ném ra đường và xã hội gạt ra lề khi không còn giá trị theo quan niệm của dân bản xứ.
Cuốn sách đã được xuất bản ở Việt Nam, gần như trùng với thời điểm ra mắt bộ phim Same same but different (Giông giống nhưng mà khác) dựa theo cuốn tự truyện.














